Ý kiến thăm dò

Truy cập

Hôm nay:
21
Hôm qua:
71
Tuần này:
143
Tháng này:
827
Tất cả:
16810
KHẶP THÁM HÁ (HỎI THĂM KHÁCH)
Sưu tầm: Hà Thị Nghin – Bản Bút, xã Nam Xuân
Tán táu ò cặp láu tán ma
Chơ tán táu khói đớ páy hay tín phá
Chơ tán ma khói đớ páy na tín bán
Nộc chịch hụ nộc chịch lén bóc
Nộc chóc hụ nộc chóc lén thái
Nộc thúa lai phái đúng páy bạu
Nộc én cậu páy láu khói ma
Khói chắng bang xía chóp mạy láy cáng háy lén ma
Bang xía tháy xía phứa cáng na lén táu
Ma hót tá nặm dín lin xén khe nặm áp
Xuối xía ná kháo đí mưa bán
Xuối xía ná kháo pán máy mọn đá đáy mưa hươn
Nghin pó mé tuộng khụng tớ nháo nháo
Nghin áo lua tuộng hươn nớ nha nha
Chặc bá khách đớ táu là, khách quý đớ ma là
Kín kháu lẹo khói chắng ớn thái
Khứn đáy nứa hín khách quý khói chăng ma tặc
Mi khách hặc khách penh khói chắng ma tuộng
Tắn táu tang nặm lơ táu tang na
Táu tang nặm khói thám kháo pá
Táu tang na khói thám kháo kháu
Kháu cái hộc hươn khín có nhăng po đệt
Khói thám kháo pệt tín đón nhắm hăm
Thám há pệt tín đắm khóp khăm nhắm té
Thám kháo tố bé hú sọng tín kíp buối ngân
Thám kháo tố bé hú sọng tín kíp buối khăm
Pau ngai tím phướn có nhăng khứ băn nó ná
Khói thám kháo pá pộc dú noóng húa tá tán ơi
Noóng pá bá đắng chắm cọ dú tén húa na
Pọm bá thú tím cắm, bặt nung nhăng poọng
Pó mé lá uốn noọng nhăng khoé nó băn
Pá nay khăm tố đí dú nơ khớ tá
Lát tớ nặn tán sớ pá rô
Có nhăng khú tố chú văn nó ná đóc nà
Khoam khói xụt khói láu ma muộn khoan khói
Khoam khói thuấn lẹo khói láu ma bang
Ma bang háng cáng khách penh ma tón
Khoam khói dóm áu bạy hớ khách quý ma năm./.

Dịch: HỎI THĂM KHÁCH XA
(Người dịch: Phạm Thị Nhị)
Chào khách, khách quý phương xa
Lúc khách đến tôi đang trên nương
Lúc khách vào nhà tôi đang ngoài ruộng
Biết khách đến, Nộc Thua đi gọi
Khách quý đến nhà, chim Én báo tin
Biết được tin, tôi cất cuốc chạy về
Cất cày, cất bừa nhanh về hỏi thăm
Đến chân cầu thang, qua mó nước mát
Múc bát nước vàng, nước bạc rửa tay
Bước lên sàn chào khách:
Tôi không ngờ khách quý đến thăm
Khách đi đường bộ hay đi đường sông
Đi đường sông xin hỏi thăm cá
Đi đường bộ xin hỏi thăm nương
Đến bản, đến mường rau xanh đẹp tầm mắt
Về đến đây tôi xin hỏi thăm gà
Vào đến nhà tôi xin hỏi thăm vịt
Hỏi thăm dê bộ móng bọc bạc
Hỏi thăm ngựa bộ móng bọc vàng
Hỏi thăm họ hàng, khách quý của tôi.
Mọi người khoẻ không?
Đàn các dốc, cá trắm lớn chưa
Đàn cá rô cái ao cạnh bản
Chắc là nhiều lắm.
Chắp tay cầu mọi người khoẻ mạnh
Vạn vật sinh sôi nảy nở
Cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Lời tôi muốn nói chưa hết
Lòng muốn bày tỏ chưa xong
Nhưng mong khách sẽ tìm về
Cho phép tôi dứt lời
Khách quý của tôi!
Về phương ngôn, tục ngữ của đồng bào dân tộc Thái ở xã Nam Xuân rất đa dạng, phong phú, trong đó có các câu tục ngữ, phương ngôn dạy đạo làm người, cách ứng xử của con người như:
“Úp phái ngắm, hắm phái danh”,
Nghĩa là: “Nói phải suy nghĩ, làm phải cân nhắc”.
Hay: “Giác mi kín nha nắng
Giác ệt hắng nha non”
Nghĩa là: “Muốn có ăn đừng siêng ngồi
Muốn làm giàu đừng siêng nằm”.
Tục ngữ ví von về sự khôn khéo của con người có câu:
“Cân lặc bơngs bát nháng; cân cháng bơngs bát khím, bát máy”
Dịch là: “Người khôn xem bước đi; người khéo xem đường kim, mũi chỉ”
Hay: “Phúa phắm phắng,mia phắm phắng pín quán
Phúa lan lin, mia lan lin pín táu
Phúa chau ngấu, mia chau ngấu pín nộc cháu đống”
Dịch là: “Chồng chắc chắn, vợ chắc chắn nên quan
Chồng chậm chạp, vợ chậm chạp nên rùa
Chồng gật gù, vợ gật gù nên chim gù rừng”
Tục ngữ dân tộc Thái có câu: “Đáy kín nha lưm thú, đáy du nha lưm công”, nghĩa là “Ăn đừng quên đũa, ở đừng quên ơn” để nhắc nhở mọi người sống ngay thẳng, thật thà, có trước, có sau.
Xin con cháu chuẩn bị về nhà chồng, xin của hồi môn được trình bày vắn tắt như sau:
Lễ cưới của người Thái và người Mường ở Nam Xuân có những điểm giống và khác nhau. Giống nhau ở chỗ: cả hai dân tộc đều có giả hỏi và hỏi thật (tiếng Thái gọi là khóng phác luống), cưới lần một và lần hai. Lần một cưới bên nhà gái: Nhà trai đem sánh lễ, tiền bạc, lợn, gạo, rượu, trầu cau…. (bằng một nửa lần hai), sang nhà gái làm thủ tục cưới lần một (gọi là lạy pợ). Từ đó, khoảng hai, ba năm, hàng tháng chảng rể phải sang nhà vợ lao động, giúp việc cho nhà vợ mỗi tháng 3 ngày, nếu có việc cần thiết thì chàng rể phải đến nhiều hơn. Trong thời gian ba năm, không có vấn đề gì xảy ra, thì hai bên chọn ngày lành, tháng tốt, nhà trai mang sính lễ sang nhà gái làm thủ tục cưới lần hai (cưới thật) và rước dâu về nhà. Sính lễ cưới lần hai gồm: tiền bạc (ngân cá) khoảng 2 đến 5 triệu, hai con lợn khoảng từ 50 kg trở lên, một đôi gà khoảng 4 đến 5 kg, một chỉnh rượu cần, hai bộ váy áo, một đôi vòng tay, hoa, quả bánh kẹo…tuỳ thuộc nhà gái khoán đòi, đem sang nhà gái. Tối hôm trước là dứn cá (nạp tài), một con lợn làm cơm tối, sáng hôm sau, mổ con lợn thứ hai, cơm nước ở nhà gái xong, chọn giờ lành, phút tốt, ông mối có lời xin con cháu và xin của hồi môn (Của hồi môn thường phải có 7 đến 8 cái, 5 đến 7 cái chăn, 6 đến 7 đôi chiếu, gối, màn, vải, phá, vàng, bạc, tiền, vòng tay, dây xà tích…tuỳ thuộc điều kiện kinh tế từng gia đình, có nhiều cho nhiều, có ít cho ít) với nhà gái và dẫn chàng rể bái ba lạy để xin rước dâu về nhà. Nội dung xin dâu và xin của hồi môn được nói vắn tắt như sau:
Cha Sư (Ông Mối nói) Xin dâu: Trước tiên, gia đình nhà trai chúng tôi rất biết ơn các ông các bà thông gia đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ được con gái ngoãn ngoãn, hiền lành, đảm đang, phúc hậu, để hôm nay chúng tôi được đến với các ông, các bà để bày tỏ tình cảm quý trọng của gia đình nhà trai chúng tôi. Gia đình chúng tôi rất vui mừng khi biết các cháu tìm hiểu, quý mến và yêu thương nhau, có duyên có nợ với nhau và được sự cho phép của gia đình, hôm nay, gia đình nhà trai chúng tôi không có gì ngoài tình cảm trân trọng và miếng trầu, chai rượu, gói bánh mang đến để báo cáo với tổ tiên về việc các cháu thành duyên vợ chồng. Giờ đã đến giờ lành, phút tốt, gia đình nhà trai chúng tôi xin phép các ông, các bà thông gia nội, ngoại, xin được rước dâu về nhà….
(Cha sư nói) Xin của hồi môn: Chúng tôi xin cảm ơn các ông các bà thông gia nội ngoại đã cho con về chăm lo cho gia đình chúng tôi, lại còn lo làm chăn ấm, đệm êm và nhiều của cải quý giá cho con cho cháu, đây là phước lộc lớn đối với gia đình chúng tôi. Gia đình chúng tôi luôn biết ơn và ghi nhớ công lao sinh thành, nuôi dưỡng, chăm lo con cháu chúng tôi thành người như ngày hôm nay. Gia đình chúng tôi xin phép được rước dâu, lấy chăn ấm, đệm êm về nhà chúng tôi trong giờ lành phút tốt này. Nhân dịp này, gia đình nhà trai chúng tôi trân trọng kính mời các ông các bà, cô dì, chú bác, nội, ngoại họ nhà gái đến thăm gia đình nhà trai chúng tôi cùng chung vui và dùng bữa cơm thân mật cùng với gia đình, trân trọng kính mời thông gia nhà gái….
4.6. Các sinh hoạt văn hóa mang ý nghĩa tâm linh như Mo người quá cố, Cúng tổ tiên, làm Vía, làm Chá, Chiêng, cúng Thần đất ruộng, Thần đất rẫy, Nóc nhà, mừng cơm mới… còn được duy trì thường xuyên trong các gia đình và cộng đồng người dân tộc Thái, Mường ở Nam Xuân, tạo nên bản sắc riêng của đồng bào các dân tộc trong xã.
Về phần Mo người quá cố được khảo tả như sau:
Lễ tang của người Thái, người Mường ở Nam Xuân có nhiều nét đặc sắc. Lễ tang thường có các bước sau: báo tin buồn, công tác chuẩn bị tang lễ, thành phần tang lễ, đưa tang, chọn lau và ngồi bếp, làm vía gọi hồn, xoá tang.
Thành phần quan trọng trong lễ tang là: Mo, keo (người Thái), chuốc (người Mường). Keo - chuốc có nhiệm vụ phục vụ thầy mo, công việc cụ thể như sau: chọc tiết trâu, bò, lợn sắp mâm cho người quá cố theo sự chỉ đạo của thầy mo, tham gia phục vụ chè, nước cho thầy mo; Phương cóng, phương kum (phường trống chiêng); Pợ bi (dâu bái); Tăn lung tá (nhà ngoại); tăn đóng (dâu gia).
Các bài mo trong đám tang cũng rất phong phú:
Mo người Thái có 13 bài gồm:
1. Tày ắm óc tái ( lý do chết)
2. Hặp mó (rước thầy Mo)
3. Tày ắm óc cân tái (lai lịch người chết)
4. Hặp muột (rước bà Muột về cúng)
5. Pặt cân (lính ngọc hoàng xuống bắt người chết về mường trời)
6. Tày ắm óc mạy (lai lịch gỗ làm quan tài)
7. Tày ắm óc Mó (lai lịch thầy Mo)
8. Thái héo thăm (tìm mộ ngoài nghĩa địa)
9. Tày ắm óc tố - giáo tố ngua, khoai (lai lịch trâu, bò, giao trâu, bò cho người quá cố)
10. Nộp chướng tô (giao nộp đồ đạc, tài sản cho người quá cố)
11. Xắng lúc lán (lời chào tiễn biệt của người chết đối với con cháu, người thân trong gia đình, họ hàng)
12. Mơi ngai (bữa cơm cuối cùng dành cho người quá cố)
13. Xúng mưa phạ (tiễn đưa người chết lên thiên đình (mường trời).
Mo người quá cố của dân tộc Mường có 21 bài gồm:
1. Mó Trong (Mo đứng, thủ tục ban đàu trước khi vào các bài chính thức), “Tảnh 3 pan nổ” (Dọn 3 mâm mời “sân sứ”), nghĩa là dọn 3 mâm cơm, rượu mời các thầy mo quá cố đã có công truyền dạy cho thầy Mo. Mời ăn xong, thầy Mo tiến hành phần mo của mình đối với người quá cố, tiếng mường gọi là “Mó Trong”, nghĩa là mo đứng.
2. “Pún cớ” (điểm gở) khi người thân chuẩn bị về mường trời mà con, cháu gặp phải.
3. “Xá phóng pheng” (con bọ hung xuống báo cho hạ giới về lịch năm, tháng, ngày).
4. “Xánh lanh xánh lo” (Đại bàng bắt vợ Thạch Sanh)
5. “Té tất, té đác” (Đẻ đất, đẻ nước), lịch sử đất và nước
6. “Xá tạ cân, tạ cai” (câu chuyện về 2 người, 1 người vào rừng làm người rừng và một người ở lại làng bản, sinh con đẻ cái, xây dựng bản mường).
7. “Cơ chú, cơ lôi, tọc móng tẹnh cạ” (Rước cây vàng, cây bạc về làm nhà cho quan lớn trong bản trong mường).
8. “Bách lô, múa tố, chiệm săm” (lai lịch người trồng dâu nuôi tằm, quay tơ, dệt vải).
9. “Ắn cháy” (mời mâm cỗ người quá cố ăn bánh ít, bánh y)
10. “Xá khạ nghin ho” (thầy mo dẫn đường người quá cố đi tìm họ hàng, nội ngoại ở ngoài nghĩa địa).
11. “Mó lênh blới” (Thầy mo hướng dẫn cho người chết xuống thuyền xuôi sông, ngược suối để lên mường trời).
12. “Tánh pan cồ” (Anh em họ hàng, con cháu, nội, ngoại dọn mâm cỗ để tiễn biệt người quá cố).
13. “Pát cơm tay lia” (bát cơm 3 màu, người quá cố chào con cháu, anh em họ hàng trước khi đi xa).
14. “Túc nược” (cho người quá cố ăn gồm có 1 vò rượu cần và 1 cần, 1 bát nếu vợ hoặc chồng chưa chết, nếu chết cả hai thì 2 cần và 2 bát).
15. “Goái táy” (thầy mo nộp lễ vật về đưa về nghĩa địa để nhập khẩu cho người quá cố).
16. “Lê boong xuộng man thi” (Lấy quan tài xuống cầu thang 3 bậc, cầu thang dành riêng cho người chết, thầy mo đi trước, ông chuốc đi sau).
17. “Tạch nha thám” (Làm mâm cơm phụ dọc đường cho người quá cố,1 chai rượu, 1 con gà, 1 bát cơm 1 đôi đũa).
18. “Páo cứa tộng” (Vào cổng nghĩa địa, xin ma chủ quản gác cồng mở cửa cổng đế lấy quan tài người quá cố vào chôn cất).
19. “Xuộng hù” (hạ huyệt)
20. “Chá mó xặng khành, pắn hù” (thầy mo gọi vía những người đi đưa tang về nhà và chỉ đường cho người chết đường đi thăm anh em họ hàng ngoài nghĩa địa và đường đi về nhà ăn hương ăn hoa cùng con cháu vào những ngày lễ, tết).
21. “Mó quay ghuê, pé mu mó, câm cướm” (Các nghi lễ kết thúc các bài mo người quá cố của thầy Mo).
Đời sống tín ngưỡng là một yếu tố quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào các dân tộc ở xã Nam Xuân. Tín ngưỡng dân gian như quan niệm về thờ cúng tổ tiên, làm vía, cúng thần đất ruộng đất rẫy, cúng nóc nhà, mừng cơm mới…nói chung là biểu hiện của nhận thức, lý trí và tình cảm về các hiện tượng xã hội, tự nhiên xung quanh.
Cúng tổ tiên là cúng các “phi hươn” (ma nhà) và “phi đắm” là linh hồn của ông, bà, bố, mẹ sau khi chết chuyển hoá mà thành. Bàn thờ “phi” này được đặt nơi cao ráo trên vách nhà ngoài. Hằng năm, vào dịp tết nguyên đán và các dịp quan trọng của gia đình như: có thêm thành viên mời, chuẩn bị tổ chức cưới, hỏi, mua xe, làm nhà hay làm một việc lớn nào đó, gia đình thường tổ chức làm “phi hươn” (cúng ma nhà) để báo cáo và xin tổ tiên phù hộ, che chở.
Đồng bào dân tộc Thái, Mường ở Nam Xuân quan niệm mỗi người có một vía riêng (tiếng Thái gọi là “Phí Khoăn”, nghĩa là bất tử), và mỗi người sinh ra đều có rất nhiều lần làm vía trong đời như: làm vía khi mới chào đời, làm vía đặt tên, gọi vía khi trẻ mất vía do đi chơi, làm vía khi mới ốm dậy, làm vía trả công cho những người đã sinh ra mình, làm vía khi chuẩn bị đi lấy chồng…mỗi loại vía đều có một mục đích khác nhau, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, là cách thể hiện tình cảm và mong ước điều tốt lành đến với gia đình, con cháu và cha mẹ mình. Một trong những lần làm vía quan trọng, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc nhất là “Vía trả công” (ệt khoắn lúc nhinh, lúc trai), đó là khi bố mẹ họ ốm đau nặng, biết rằng họ sẽ mất đi một người thân yêu nhất thì con tải, con gái, dâu, rể (cả con đẻ và con nuôi) làm vía cầu mong bố, mẹ sẽ qua cơn bệnh, khoẻ mạnh trở lại. Bên cạnh làm vía trả ơn, người Thái, Mường còn làm vía đặc biệt “Vía đóng hòm” (ệt khoắn khụt mạy), làm vía lúc bệnh nặng, sắp qua đời, lần làm vía này là mong muốn người qua đời sẽ có nơi an nghỉ chắc chắn, hòm của họ sẽ không bị mục nát, không bị nước hay con vật vào hòm. Nghi lễ trong làm vía, mỗi lần làm vía khác nhau, tuỳ hoàn cảnh, điều kiện của từng gia đình mà làm vía gà, lợn, trâu, bò..nhưng mục đích, ý nghĩa đều giống nhau, đều là cầu mong cho người thân của họ có cuộc sống bình yên, khoẻ mạnh, gặp nhiều điều may mắn, tốt lành. (Người thực hiện các nghi lễ làm vía là thầy Mo).
Người Thái, Mường quan niệm, tất cả các hoạt động của con người đều được các thần phù hộ như là Trời, Đất, Nước, Sông, Suối…trong đó phổ biến nhất là cúng thần đất được thực hiện khi chuẩn bị tỉa nương rẫy, cấy lúa ruộng, chọn đất dựng nhà…để cầu khấn các thần linh phù hộ cho mùa màng tươi tốt, không bị sâu bệnh, thu hoạch năng suất. Nếu cùng chọn đất làm nhà thì cầu khấn các thần linh “cháu đín” (thần đất) phù hộ cho gia chủ và những người tham gia dựng nhà không bị tai nạn, người nhà yên ấm, không ốm dau, nhiều của cải, nuôi, trồng năng suất, chất lượng.
Sau khi thu hoạch lúa về (cả 2 vụ), nhà nào cũng chuẩn bị làm bữa cơm để mời tổ tiên và mời anh em họ hàng, láng giềng đến ăn cơm mới (người Thái gọi là “lau kháu hạch”, nghĩa là ăn cơm mới sau thu hoạch mùa màng). Trong dịp này, quan trọng là phải có gạo nếp mùa mới đồ xôi và thịt, cá tuỳ điều kiện từng gia đình, sau đó gia chủ hoặc một người cao tuổi nào đó trong họ, hàng sẽ báo cáo và khấn mời tổ tiên về ăn cơm mới và phù hộ cho con cháu khoẻ mạnh, mùa màng vụ tới tốt tươi, năng suất.
4.7. Những phong tục, tập quán như: cúng tổ tiên, làm vía, cúng thần đất, ăn cơm mới…và các phong tục trong lễ cưới, tang ma, mừng thọ của đồng bào các dân tộc ở xã Nam Xuân vẫn được duy trì thực hiện, tạo nên bản sắc riêng của đồng bào các dân tộc ở đây thêm phong phú, đa dạng.
4.8. Các danh hiệu của xã: Xã đạt các tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn 2001 - 2010 (Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá ký quyết định ngày 13/12/2006) và giai đoạn 2011 - 2020 (Chủ tịch Uỷ ban nhân tỉnh Thanh Hoá ký quyết định ngày 19/01/2015).